Yêu cầu tư vấn Kiểm tra đơn hàng
Trang chủ Giới thiệukim cươngThờ phụngCưới hỏiTặng vậtĐặt hàngHỏa táng

Tạng Thư Sống Chết (Phần Bốn - Bài 21B)

PHẦN BỐN: TỔNG KẾT

Bài 21- Tiến trình phổ quát (B)

 

Sự phân cách giữa bạn và những sanh khởi trong tâm bạn, - và tính nhị nguyên mà nó gây ra - được phóng đại một cách ghê gớm sau khi chết. Điều này giải thích làm thế nào - nếu bạn không có sự trực nhận cốt yếu này về thực chất những gì sinh khởi trong tâm - trong Bardo pháp tánh, những âm thanh, ánh sáng và quang sắc xuất hiện có thể khoác một thực tại khách quan, như thể là thực có những hiện tượng ngoại giới kinh hoàng đang xảy đến với bạn. Trong một tình huống như vậy, bạn chỉ còn nước là chạy trốn tia sáng chói lọi của chư thần an lạc và phẫn nộ ấy, để hướng đến những ánh sáng mờ quen thuộc quyến rũ của lục đạo. Vậy, sự trực nhận cốt yếu trong Bardo pháp tánh là, “đây là năng lực trí giác của tâm ta đang xuất hiện” : Chư Phật và ánh sáng trí tuệ cũng không ngoài tâm bạn, mà chính là năng lực tính giác của bạn. Nhận ra điều ấy là một kinh nghiệm bất nhị, và thể nhập vào đó là giải thoát.

 

Những gì xảy ra trong Bardo pháp tánh vào lúc chết, và bất cứ khi nào một cảm xúc bắt đầu sanh khởi trong tâm ta lúc sống, đều đi theo cùng một tiến trình tự nhiên ấy. Vấn đề là chúng ta có nhận ra được thực chất sự sinh khởi ấy hay không. Nếu ta có thể nhận ra sự sinh khởi một cảm xúc đúng như thực chất của nó - nghĩa là năng lực tự nhiên của bản tâm - thì ta có thể tự giải thoát khỏi những hậu quả tiêu cực, những nguy hiểm có thể có của cảm xúc ấy, và để cho nó tan trở lại vào trong tính sáng suốt thuần tịnh của Tính giác vô biên.

 

Sự nhận ra này, và sự giải thoát mà nó đem lại, chỉ có thể là kết quả của nhiều, rất nhiều năm tu tập thiền quán nghiêm chỉnh nhất, vì nó đòi hỏi một sự quen thuộc lâu dài và an trú vững chãi trong tự tánh tâm. Ngoài sự tu tập ấy ra, không gì có thể đem lại cho ta niềm an tịnh và giải thoát khỏi những khuynh hướng tập quán, những cảm xúc mâu thuẫn trong ta, một sự giải thoát mà tất cả chúng ta đều khát khao có được. Mặc dù theo giáo lý, sự giải thoát ấy rất khó, nhưng sự biết rằng có thể giải thoát, cũng đủ là một nguồn cảm hứng và hy vọng lớn lao cho chúng ta. Có một cách để hiểu ý tưởng và cảm xúc, tâm và bản chất nó, sống và chết, một cách trọn vẹn, cách đó là đạt đến thực chứng. Các bậc đã giác ngộ nhìn sống chết như nhìn vào lòng bàn tay, vì họ biết như Tsele Natsok Rangdrol viết : “Sinh tử là tâm ngươi, niết bàn cũng là tâm ngươi ; tất cả lạc và khổ, tất cả vọng tưởng không hiện hữu tách biệt với tâm ngươi” . Và tri kiến sáng suốt này, được an trú vững vàng qua tu luyện dài lâu, được thể nhập trong từng cử động, ý nghĩ và cảm xúc - để thấy được chúng chỉ có thực một cách tương đối, chính tri kiến ấy đã giải tỏa được chúng. Dudjom Rinpoche nói : “Khi đã tịnh hóa ảo tưởng lớn, bóng tối của tâm, thì ánh sáng rực rỡ của mặt trời không bị ngăn che khởi lên liên tục”.

 

Năng lực hỷ lạc

 

Tôi thường nghĩ đến câu Dudjom Rinpoche viết : “Bản tính của tâm là bản tính của mọi sự”. Tôi tự hỏi cái tiến trình ba giai đoạn của các Trung Ấm (Bardo) có phải chăng không những đúng cho mọi mức độ tâm lý, mọi kinh nghiệm của tâm ở trong đời cũng như lúc chết, mà có lẽ còn là bản chất thực sự của chính vũ trụ.

 

Càng tư duy về ba thân và tiến trình ba giai đoạn của các Trung Ấm, tôi càng tìm thấy những tương ứng lạ lùng phong phú với tri kiến sâu xa của các truyền thống tâm linh khác, và với nhiều lĩnh vực có vẻ rất khác nhau của nỗ lực con người. Tôi nghĩ tới tri kiến Ki-tô giáo về bản chất và mọi hoạt động của Thượng đế như Chúa ba ngôi, về Ki-tô hiện thân từ nền tảng của đức chúa Cha qua trung gian vi mật của Thánh thần. Phải chăng ít nhất nó cũng soi sáng cho ta vài điều, nếu ta xem Ki-tô cũng tương tự như Ứng hóa thân, đấng Thánh linh cũng như Báo thân, và nền tảng của cả hai như là Pháp thân ? Trong Phật giáo Tây Tạng, danh từ tulku, nhập thể, thực sự có nghĩa là Ứng hóa thân, sự nhập thể liên tục tái xuất hiện, hoạt động của năng lực đại bi và giác ngộ. Phải chăng cách hiểu này rất giống quan niệm ba thân của Ki-tô giáo ?

 

Tôi cũng nghĩ về tri kiến Thượng đế gồm ba đức của Ấn giáo, Phạn ngữ là satcitananda, dịch là “hiện thể, tâm và phúc lạc”. Với người Ấn giáo, Thượng đế là sự bùng vỡ xuất thần của tất cả những năng lực ấy cùng một lúc. Ở đây ta có thể thấy những tương đồng kỳ lạ với ba thân : Báo thân như ananda - năng lực phúc lạc của Thượng đế ; Ứng hóa thân như biểu hiện của Thượng đế ; và Pháp thân như tâm của Thượng đế. Bất cứ ai đã thấy pho tượng Shiva lớn trong động Voi ở Ấn, với ba mặt biểu trưng ba mặt của tuyệt đối, sẽ có được vài ý niệm về tính vĩ đại của tri kiến về thiêng liêng.

 

Cả hai tri kiến huyền học này về tinh túy, bản chất và hoạt động (thể, tướng, dụng) của yếu tố thiêng liêng làm cho người Phật tử hiểu rõ một trong những tầng mức khác của thực tại, tuy khác nhau mà tương nhập vào nhau. Có phải ít nhất, điều đáng chú ý là một tiến trình gồm ba khía cạnh ấy cũng được thấy ở cốt lõi của mỗi truyền thống, mặc dù họ có nhìn thực tại theo quan điểm riêng của họ ?

 

Khi nghĩ về bản chất của sự biểu hiện có thể như thế nào, và những cách thế khác nhau nhưng có liên quan nhau để hiểu những biểu hiện ấy, tôi tự nhiên nghĩ tới tính sáng tạo của con người khi biểu hiện ra hình thể cái thế giới nội tâm của nhân loại. Tôi vẫn thường tự hỏi hàng bao năm nay, làm thế nào sự trình bày ba thân và Trung Ấm có thể rọi ánh sáng vào toàn thể tiến trình diễn đạt nghệ thuật, và ám chỉ đến bản chất thực và mục tiêu ẩn khuất của nó. Mỗi hành vi cá nhân, mỗi biểu hiện của óc sáng tạo, dù trong địa hạt âm nhạc, nghệ thuật, thi ca, hay trong những giai đoạn của phát minh khoa học, như nhiều nhà khoa học đã nói, đều tuôn phát từ một nền tảng huyền bí của một nguồn cảm hứng ốp vào hình dạng nhờ một năng lực trung gian để phiên dịch, truyền thông. Có phải chúng ta đang gặp ở đây một tác động khác của cái tiến trình hỗ tương ba thứ mà ta đã thấy hoạt động trong các cõi Trung Ấm ? Phải chăng đấy là lý do khiến cho một vài công trình âm nhạc và thi ca, và một vài phát minh khoa học, dường như có một ý nghĩa hầu như vô tận ? Và có phải điều này giải thích cái năng lực của chúng để hướng dẫn chúng ta đi vào một trạng thái quán tưởng và phúc lạc, ở đấy một bí ẩn cốt yếu của bản chất ta và bản chất thực tại được hiển lộ ? Từ đâu những dòng thơ của Blake đến ? :

 

Nhìn thấy vũ trụ trong một hạt cát

Thấy thiên đường trong một đóa hoa

Nắm Vô biên trong lòng bàn tay

Và vĩnh cửu rút lại trong một giờ.

 

Trong Phật giáo Tây Tạng, Ứng hóa thân được thấy như biểu hiện của giác ngộ, trong vô số hình dạng và cách thức, ở trong thế giới vật lý. Theo truyền thống, nó được định nghĩa theo ba cách : Một là Ứng thân của một vị Phật toàn giác, như Thích Ca Tất Đạt Đa, người được sinh ra trong thế giới này và giảng dạy trong đó. Loại Ứng thân thứ hai là một người có vẻ bình thường nhưng được cái phước có khả năng đặc biệt làm lợi lạc cho kẻ khác : một hóa thân hay tulku. Và thứ ba là một người qua đó một mức giác ngộ được thể hiện để làm lợi lạc và cảm hứng cho người khác qua những nghệ thuật khoa học công việc khác nhau. Trường hợp những người sau này bản năng giác ngộ “tự nhiên như ánh sáng mặt trời phải ra lệnh hay có ý thực nào về việc ấy, có mặt trời thì tự nhiên có ánh sáng” . Kalu Rinpoche nói. Vậy phải chăng ta có thể nói rằng, năng lực và bản chất của thiên tài nghệ thuật cũng có nguồn cảm hứng tối hậu của nó từ trọng tâm này của chân lý ?”.

 

Điều này không có nghĩa là những nghệ sĩ vĩ đại có thể nói là đã giác ngộ, từ cuộc sống của họ rõ ràng là họ chưa giác ngộ. Nhưng một điều cũng rõ nữa là trong vài giai đoạn cao điểm và tình huống đặc biệt, họ có thể là những khí cụ, những “kênh” của năng lực giác ngộ. Ai khi đã lắng nghe những tuyệt tác của Beethoven hay Mozart, có thể chối cãi rằng không có một cõi nào khác đã thể hiện trong tác phẩm họ ? Và có ai ngắm nhìn những ngôi giáo đường của Âu châu thời Trung cổ như Chartres hay Isfahan của Hồi giáo, hay Đế thiên Đế thích, hay Ellora của Ấn giáo, mà không thấy rằng những nghệ sĩ tạo ra chúng đã được cảm hứng trực tiếp bởi một năng lực tuôn phát từ nền tảng, suối nguồn của mọi sự ?

 

Tôi nghĩ một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại cũng như một vầng trăng chiếu trong bầu trời đêm, nó chiếu sáng thế gian, nhưng ánh sáng ấy không là của riêng nó, mà mượn từ mặt trời, cái “tuyệt đối” đang bị ẩn khuất. Nghệ thuật đã giúp cho nhiều người thoáng nhìn thấy bản chất của tâm linh. Phải chăng một trong những lý do nghệ thuật tân tiến bị hạn cuộc là vì nó đã mất đi cái tri kiến về nguồn gốc vô hình thiêng liêng của nghệ thuật, và mục đích cao cả của nó : đem lại cho người thưởng thức một tri kiến về bản chất thực của họ, địa vị của họ trong vũ trụ, làm cho họ thấy được giá trị, ý nghĩa và những khả tính vô biên của đời sống. Vậy phải chăng ý nghĩa đích thực của kiệt tác nghệ thuật là nó cũng tương tự như Báo thân, cái năng lực bất tận đầy phúc lạc mà Rilke gọi là “năng lực chắp cánh của niềm vui”, tia sáng truyền đạt, truyền thông tính thuần tịnh, ý nghĩa vô biên của cái tuyệt đối cho thế giới hữu hạn và tương đối, - nói cách khác là từ Pháp thân đến Ứng hóa thân ?

 

Mở ra cái thấy toàn diện

 

Một trong nhiều phương diện mà tấm gương của đức Dalai Lama đã gây cho tôi nguồn cảm hứng là, ngài rất quan tâm và có thái độ phóng khoáng đối với các khám phá mới của khoa học tân tiến. Chung quy, Phật giáo được xem là “một khoa học về tâm thức”, và khi tôi quán xét giáo lý Trung Ấm, thì tính minh bạch và sự soi sáng rộng lớn của giáo lý này càng ngày càng gây cho tôi niềm tri ân và úy phục. Nếu Phật giáo là khoa học về tâm linh thì theo tôi, Dzogchen và giáo lý Bardo chính là trọng tâm của nền khoa học ấy, hạt giống thực tiễn và thấu thị nhất, từ đó một cây lớn -  những thực chứng tương quan lẫn nhau - đã phát triển và sẽ tiếp tục phát triển theo nhiều cách mà nay ta chưa thể tưởng tượng nổi, vì nhân loại hãy còn đang trên đà tiến hóa.

 

Trải nhiềug năm gặp gỡ với những khoa học gia đủ mọi ngành, càng ngày tôi càng kinh ngạc trước tính phong phú của những tương đồng giữa lời dạy của đức Phật với những khám phá mới của vật lý học hiện nay. Nhiều nhà tiên phong về triết học và khoa học Tây phương may thay cũng đã ý thức đến sự tương đồng ấy, và đang hăng say thám hiểm với một ý thức tế nhị ; để từ cuộc đối thoại giữa huyền học - khoa học về tâm thức - với các ngành khoa học vật chất, có thể phát khởi một tri kiến mới về vũ trụ và trách nhiệm con người trước vũ trụ. Càng lúc tôi càng có niềm xác tín rằng chính giáo lý Trung Ấm với tiến trình mở ra ba giai đoạn ấy, sẽ là một đóng góp độc đáo cho cuộc đối thoại này. Tôi muốn chú ý đến một trong những tri kiến khoa học đã đặc biệt khiến tôi nghiền ngẫm, là tri kiến của nhà vật lý David Bohm đã nghĩ đến một phưong thức mới để tiếp cận thực tại mà, mặc dù còn đang gây nhiều tranh chấp, đã được phản ứng đầy thiện cảm của nhiều nhà nghiên cứu thuộc đủ mọi ngành : vật lý, y học, sinh vật học, toán học, thần kinh học, tâm bệnh học, và một số nghệ sĩ, triết gia. David Bohm đã nghĩ đến một cách nghiên cứu thực tại mới, căn cứ trên một sự thấu hiểu toàn diện và tính nhất thể của hiện hữu kể như một Toàn thể không gián đoạn, không chấp nối - và đây chính là lối nhìn của giáo lý Trung Ấm.

 

Cái trật tự năng động, nhiều chiều mà Bohm thấy đang vận hành trong vũ trụ, cốt yếu gồm ba phương diện. Phương diện rõ rệt nhất là thế giới vật thể thời - không của chúng ta với không gian ba chiều, mà ông gọi là cái trật tự rõ rệt hay mở. Từ đâu mà ông tin cái trật tự này mở ra ? Chính từ một lĩnh vực phổ quát, không gián đoạn, “một nền tảng ngoài thời gian”, cái trật tự hàm ẩn hay kín, như ông gọi, vốn là nền tảng bao quát tất cả kinh nghiệm chúng ta. Ông thấy tương quan giữa hai trật tự này như là một tiến trình liên tục, trong đó cái gì mở ra trong trật tự rõ rệt lại được khép vào lại trong trật tự hàm ẩn. Cái nguồn gốc tổ chức nên tiến trình này thành ra những cơ cấu khác nhau thiên hình vạn trạng, thì ông đề nghị đặt tên là cái trật tự “siêu ẩn”, một chiều không gian tinh vi hơn nhiều, và có tiềm năng vô hạn.

 

Có thể chăng có một tương đồng giữa ba trật tự này với ba thân và tiến trình Trung Ấm ? Như David Bohm nói : “Toàn thể khái niệm về trật tự hàm ẩn là một cách thể để bàn về nguồn gốc của hình sắc xuất phát từ vô sắc, qua trung gian tiến trình mở ra”. (Renée Weber, ed. Đối thoại giữa các khoa học gia và hiền giả : Đi tìm Nhất thể, London, 1986)

 

Tôi cũng được cảm hứng từ việc David Bohm đã khai triển lối hiểu vật chất - theo đó, vật chất khởi lên từ vật lý học lượng tử - để hiểu chính tâm thức. Đó là một bước nhảy mà theo tôi sẽ được xem càng ngày càng cần thiết, khi khoa học mở rộng tầm nhìn, và tiến hóa. Bohm nói : “Tâm thức có thể có một cơ cấu giống như vũ trụ, và trong sự vận chuyển ở nền tảng, mà ta gọi là chân không ấy kỳ thực có một năng lực ghê gớm, một sự biến dịch. Những hình ảnh đặc biệt xuất hiện trong tâm có thể giống như những phân tử, và sự đạt đến nền tảng của tâm có thể được cảm thấy như là ánh sáng” . (Sđd, 48)

 

Cùng với khái niệm về trật tự hàm ẩn và trật tự rõ rệt ấy, David Bohm đã tưởng tượng ra một lối nhìn mối tương quan giữa tâm lý vật lý, giữa tâm và vật chất, gọi là ý nghĩa tâm-vật-lý. Ông viết : “Quan niệm về ý nghĩa tâm vật lý có nghĩa rằng vật lý và ý nghĩa của nó, tức tâm lý, không phải là hai thực thể biệt lập, đúng hơn đó là hai phương diện của một thực tại duy nhất bao trùm cả hai”. (Sđd, 73)

 

David Bohm cho rằng vũ trụ biểu hiện ba phương diện liên kết với nhau : vật chất, năng lượng và ý nghĩa.

 

Từ quan điểm trật tự hàm ẩn, thì năng lượng và vật chất thấm nhuần một loại ý nghĩa nào đó, đem lại hình dạng cho hoạt động bao quát của nó và cho vật chất sinh khởi trong hoạt động ấy. Năng lực của tâm và của vật chất trong não bộ cũng thấm nhuần một loại ý nghĩa đem lại hình dạng cho hoạt động bao quát của nó. Như vậy, một điều khá thông thường là năng lượng bao gồm vật chất và ý nghĩa, trong khi vật chất thì bao gồm năng lượng và ý nghĩa… Nhưng ý nghĩa cũng bao gồm vật chất và năng lượng… Vậy, mỗi một khái niệm trong ba khái niệm căn bản ấy bao hàm hai cái kia. (Bohm, Unfolding Meaning, 90)

 

Giản dị hóa một tri kiến vô cùng tinh vi, tế nhị, bạn có thể bảo rằng đối với David Bohm “ý nghĩa” có tầm quan trọng đặc biệt rộng rãi. Ông nói : “Điều này bao hàm - trái với quan điểm thông thường - rằng ý nghĩa là một phần cốt yếu nội tại trong hoạt động tổng quát của chúng ta, chứ không phải chỉ là một tính chất thuần túy trừu tượng chỉ hiện hữu trong tâm mà thôi. Hay nói cách khác, trong đời người, thông thường, ý nghĩa là sống…”  Chính trong hành vi giải thích vũ trụ, ta đang sáng tạo vũ trụ : Có thể nói rằng chúng ta là tổng thể của những ý nghĩa chúng ta”. (Bohm, 93)

 

Phải chăng sẽ có ích nếu ta khởi sự tưởng đến những tương đồng giữa ba phương diện của vũ trụ mà Bohm nói, với ba thân ? Một khai thác sâu hơn ý của Bohm có lẽ sẽ cho thấy rằng ý nghĩa, năng lượng và vật chất có tương  quan lẫn nhau như ba thân. Phải chăng điều này có thể gợi ý rằng vai trò của ý nghĩa, như Bohm giải thích, có phần nào tương tự với Pháp thân, cái tổng thể vô điều kiện, luôn luôn sáng tạo, từ đó mọi sự sinh khởi ? Công việc của năng lượng, qua đó ý nghĩa và vật chất tác động lẫn nhau, có phần nào giống với Báo thân. Sự tuôn phát tự nhiên, liên tục của năng lượng từ cái nền tảng chân không, và sự tạo ra vật chất, theo tri kiến của Bohm, có phần giống như Ứng hóa thân, sự kết tinh liên tục của năng lượng ấy thành ra hình dạng và biểu hiện.

 

Khi nghĩ về David Bohm và cách giải thích đặc biệt của ông về thực tại, tôi có khuynh hướng tự hỏi, một nhà vật lý học vĩ đại sẽ khám phá được những gì, nếu đồng thời họ cũng là một hành giả đã được một bậc đại sư hướng dẫn và thực sự tu chứng ? Cái gì một nhà khoa học và một hiền nhân, như Longchenpa và Einstein hợp chung lại, sẽ nói với ta về bản chất thực tại nhỉ ? Có thể một trong những hoa trái tương lai của cây giáo lý Trung Ấm này sẽ là một cuộc đối thoại giữa khoa học và huyền học chăng ? Và điều ấy sẽ có ý nghĩa gì cho nhân loại ?

 

Sự tương đồng sâu xa nhất giữa ý tưởng của David Bohm và giáo lý Trung Ấm là cả hai đều tuôn phát từ một tri kiến về một nhất thể toàn vẹn. Tri kiến này, nếu nó có thể thêm sức cho cá nhân để chuyển hóa tâm thức họ, và nhờ vậy ảnh hưởng đến xã hội, thì sẽ phục hồi cho thế giới chúng ta một ý thức cấp thiết về tương quan sinh tồn và ý nghĩa đời sống.

 

Điều tôi đề nghị ở đây là đường lối con người suy nghĩ về cái toàn thể, hay thế giới quan của họ, là điều quan yếu nhất cho trật tự của chính nhân tâm. Nếu con người nghĩ về cái toàn thể như là sự ráp nối những mảnh vụn biệt lập, thì tâm thức họ cũng có khuynh hướng vận hành theo kiểu ấy. Nhưng nếu họ có thể bao gồm mọi sự liên kết hòa hợp nhau trong một toàn thể bất khả phân, không gián đoạn, không biên giới (vì mỗi biên giới là một phân chia, một gián đoạn) thì khi ấy tâm họ sẽ có khuynh hướng di chuyển theo cách ấy, và từ đó sẽ có một hành động có trật tự nằm trong cái toàn thể. (David Bohm, Tòan vẹn và trật tự hàm ẩn, 1988, xi.)

 

Tất cả các bậc thầy vĩ đại sẽ hoàn toàn đồng ý với Bohm khi ông viết :

 

Một sự thay đổi ý nghĩa là cần thiết để thay đổi thế giới này về chính trị, kinh tế và xã hội. Nhưng sự thay đổi này phải khởi sự với từng cá nhân, nó phải thay đổi cho cá nhân… Nếu ý nghĩa là một phần then chốt của thực tại thì một thay đổi căn để đã xảy ra khi xã hội, cá nhân và những tương quan được thấy là có ý nghĩa gì khác. (Unfolding Meaning, 107)

 

Cuối cùng tri kiến của giáo lý Trung Ấm và sự thấu hiểu sâu xa về nghệ thuật và khoa học đều hội tụ ở một sự kiện : đó là trách nhiệm chúng ta đối với chính mình và cho chính mình ; và sự cần thiết phải xử dụng trách nhiệm ấy một cách cấp bách để tự chuyển hóa chúng ta, ý nghĩa cuộc đời ta và thế giới xung quanh ta.

 

Như đức Phật dạy : “Ta chỉ cho ngươi con đường giải thoát, nhưng chính ngươi phải bước đi” .

 

Theo Quangduc.com

 

Đọc tiếp phần 22

Đọc lại phần 21A

Cùng chủ đề
Tạng Thư Sống Chết (Phụ Lục 3) Tạng Thư Sống Chết (Phụ Lục 2) Tạng Thư Sống Chết (Phụ Lục 1) Tạng Thư Sống Chết (Phần Bốn - Bài 22)Tạng Thư Sống Chết (Phần Bốn - Bài 21A) Tạng Thư Sống Chết (Phần Ba - Bài 20B) Tạng Thư Sống Chết (Phần Ba - Bài 20A) Tạng Thư Sống Chết (Phần Ba - Bài 19B) Tạng Thư Sống Chết (Phần Ba - Bài 19A) Tạng Thư Sống Chết (Phần Ba - Bài 18B)
Quy định sử dụng | Cộng tác viên | Những câu hỏi thường gặp | Tuyển dụng | XEM LỊCH ÂM | Liên hệ

Dịch vụ tạo Kim cương Hoa Sen – Công ty CP TM & ĐT Bách Việt
Địa chỉ: số 21 Phổ Quang, phường 2, quận Tân Bình, Tp.HCM    -   Điện thoại: 848. 39979552 - Fax: 848. 38130629     
Email: kimcuonghoasen@gmail.com

Design by Vision Co Ltd